Bệnh vảy nến là một bệnh đỏ da có vảy mạn tính, xảy ra trên một cơ địa có tính di truyền, xuất hiện theo cơ chế tự miễn dưới tác động của các yếu tố khởi động như stress, nhiễm trùng, chấn thương thượng bì,... Bệnh hầu hết là lành tính (trừ một vài thể nặng như vảy nến thể khớp, đỏ da toàn thân do vảy nến, vảy nến thể mủ), nhưng ảnh hưởng rất lớn đến thẩm mỹ và tâm lý của bệnh nhân. Bệnh vảy nến gặp ở mọi lứa tuổi (người lớn nhiều hơn trẻ em), mọi giới (nam gặp nhiều hơn nữ), mọi tầng lớp, mọi địa phương, không phụ thuộc vào thời tiết hay khí hậu. Theo Creamer và Barker, 1997, bệnh vảy nến chiếm từ 1 – 3% dân số thế giới (chiếm 5% dân số châu Âu, 2% dân số châu Á và châu Phi). Ở Việt Nam, hàng năm theo thống kê của Bệnh viện Da liễu Trung ương, bệnh vảy nến chiếm 5 – 7% số bệnh nhân đến khám tại các Da Liễu. Bệnh phát thành từng đợt, có khi tăng giảm theo mùa.
II. NGUYÊN NHÂN VÀ CƠ CHẾ BỆNH SINH
Vẩy nến là do rối loạn biệt hóa lành tính của tế bào da, cụ thể là tăng sinh tế bào thượng bì, nhất là tế bào đáy và tế bào gai dẫn đến rối loạn quá trình tạo sừng. Bình thường chu biệt hóa của tế bào thượng bì là 20 – 27 ngày, trong bệnh vảy nến chu trình này chỉ còn 2 – 4 ngày.
Nguyên nhân của bệnh vảy nến: Cho đến nay vẫn chưa khẳng định rõ ràng nguyên nhân. Nhưng người ta biết nghĩ nhiều đến yếu tố gen, gen gây bệnh vảy nến nằm trên nhiễm sắc thể số 6 có liên quan dấn HLA-DR7; Bl3, Bl7, B37, BW57... dưới tác động của các yếu tố như stress, nhiễm khuẩn, rối loạn nội tiết, yếu tố vật lý,... gen bệnh được khởi động dẫn đến tăng sinh tế bào thượng bì và hình thành nên bệnh vảy nến.
* Các yêu tố liên quan (yếu tố khởi động bệnh):
- Yếu tố di truyền: Khoảng 30% bệnh nhân có yếu tố gia đình (cha, mẹ, anh chị em ruột hoặc họ hàng trực hệ); 70% các cặp song sinh cùng mắc. Các nghiên cứu chỉ ra các kháng nguyên HLAW6, B13, B17, DR7 liên quan đến vẩy nến da và khớp.
- Căng thẳng thần kinh: Các stress có liên quan đến việc phát bệnh và bệnh nặng.
- Yếu tố nhiễm khuẩn: Các ổ nhiễm khuẩn có liên quan đến quá trình phát sinh và phát triển bệnh vảy nến, chủ yếu hay gặp là vai trò của liên cầu.
- Thuốc: Bệnh vẩy nến xuất hiện sau khi sử dụng một số thuốc: chẹn beta kéo dài, lithium, đặc biệt sau khi sử dụng corticoid.
- Yếu tố vật lý: Tổn thương xuất hiện trên những sang chấn cơ học như vết t xước, sẹo (hiện tượng Koebner).
- Những yếu tố sinh học, miễn dịch: tại tổn thương vảy nến xuất hiện kháng thể kháng lớp sừng; tăng nồng độ IgA, IgG, IgE trong máu bệnh nhân vảy nến; có nhiều tế bào lympho T xâm nhập vào da vùng bị tổn thương
- Đỏ da: Kích thước dát đỏ to nhỏ khác nhau từ vài tâm đến vài cm, có khi tạo thành mảng lớn giới hạn rõ, số lượng nhiều hay ít tùy thuộc từng bệnh nhân, hơi gờ cao, nền cứng cộm thâm nhiễm nhiều hay ít, có vảy trắng chiếm gần hết nền đỏ chỉ còn lại viền đỏ xung quanh, rộng hơn lớp vảy.
- Vảy da: Trên dát đỏ có phủ một lớp vảy da trắng đục hơi bóng như xà cừ, như màu nến trắng, vảy xếp làm nhiều tầng dễ bong, cạo vảy bong vụn ra như bột, như phấn, nến rơi lả tả. Vảy tái tạo rất nhanh, số lượng vảy nhiều, bong lớp này thì lớp khác đùn lên.
- Dấu hiệu giọt sương máu hay cạo Brocq (+): Dùng thìa nạo hay dao mổ cùn cạo từ từ nhẹ nhàng nhiều lần trên bề mặt tổn thương vảy sẽ bong ra vụn như bột trắng, tiếp tục cạo đến một lớp màng mỏng, dai, trong suốt bóc được như “vỏ củ hành”, khi bóc hết lớp vỏ này bộc lộ nền da đỏ, rớm máu lấm tấm như giọt sương nhỏ.
- Tổn thương móng: khoảng 25% số bệnh nhân, biểu hiện bản móng có hố lõm nhỏ (như đế khâu của thợ may) hoặc có các đường kẻ dọc theo móng, móng dòn, vụn, dày ở bờ tự do, thường bị nhiều móng cùng một lúc.
- Triệu chứng cơ năng: Ngứa tùy theo từng bệnh nhân, thường ngứa ở giai đoạn bệnh đang tiến triển, ngứa chỉ chiếm 20 – 40% các trường hợp. Một số không ngứa mà cảm thấy khó chịu.
- Triệu chứng toàn thân: không có gì đặc biệt
Vảy nến thể giọt: Tổn thương là các chấm nhỏ từ 1 – 2mm, rải rác khắp người nhất là nửa người trên, màu đỏ tươi có vảy da dày, trắng, mủn dễ bong, hay gặp ở người trẻ.
Vảy nến thể đồng tiền: là hình thái lâm sàng hay gặp nhất với đám tổn thương có kích thước từ 1 – 4 cm, hình tròn, giới hạn rõ. Vảy nến thể mảng: Tổn thương có kích thước từ 5 – 10 cm khu trú ở vùng tỳ đè như lưng ngực, khuỷu tay, đầu gối... giới hạn rõ, cộm hơn thể khác.
Vảy nến da đầu: Tổn thương là các mảng da đỏ nền cộm, bề mặt tổn thương phủ vảy dày, tổn thương thường lấn ra trán tạo thành một viền gọi là “vành vảy nến”, tóc không rụng mà vẫn mọc xuyên qua vảy.
Nội dung mang tính tham khảo, không thay thế chẩn đoán/điều trị y khoa. Sản phẩm chăm sóc da không có tác dụng chữa bệnh. Khi tình trạng kéo dài hoặc nặng, hãy gặp bác sĩ da liễu.







